PCC Nội trú 24H – Thăng Long, Thứ Ba, ngày 03/03/2026 – tại buổi họp, các trường hợp nội trú được rà soát toàn diện, bao gồm nhiều ca bệnh nặng và phức tạp như viêm tụy cấp do tăng triglycerid kèm viêm phổi và bệnh lý nền chuyển hoá; sốc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, áp-xe sâu và tổn thương đa cơ quan; viêm màng não, viêm phổi liên quan thở máy, nấm máu trên nền suy tim – thận – gan; cùng các trường hợp chấn thương, ngộ độc thuốc và bệnh lý tim mạch có van cơ học.
Nhiều bệnh nhân vẫn phụ thuộc hỗ trợ hô hấp hoặc vừa cai máy thở, đòi hỏi theo dõi sát diễn biến lâm sàng và cận lâm sàng. Cuộc họp nhấn mạnh việc rà soát chỉ số nhiễm trùng, đánh giá đáp ứng kháng sinh – kháng nấm, kiểm soát cân bằng dịch và điện giải, xử lý triệt để ổ nhiễm khuẩn, đồng thời tìm nguyên nhân khiến một số trường hợp chưa cải thiện hoặc chưa thể cai máy. Các nhóm chuyên môn thống nhất tiếp tục phối hợp liên ngành, cập nhật kết quả vi sinh, hình ảnh học và xét nghiệm chuyên sâu nhằm tối ưu hóa chiến lược điều trị cho từng người bệnh.
I. Báo cáo:
P1: Viêm tụy cấp do tăng Triglycerid CTSI 4 điểm – Viêm phổi – Rối loạn mỡ máu – Tăng huyết áp – Béo phì. Hiện tại thở oxy kính, tỉnh táo, các chỉ số cận lâm sàng vẫn tương tự như hôm trước. Cần phải tiếp tục theo dõi sát sao và điều trị.
P2: Sốc nhiễm khuẩn – Nhiễm khuẩn huyết S. aureus – Áp xe cơ thắt lưng chậu – Viêm phổi do Klebsiella pneumoniae – Viêm màng não mủ – Nhồi máu não đa ổ – Nhồi máu thận phải – Xẹp cột sống thắt lưng. Được chụp CVLT và chụp ổ bụng. Công tác rà soát và đánh giá lại toàn bộ các chỉ số nhiễm trùng cần được triển khai một cách hệ thống, bao gồm theo dõi sát các thông số cận lâm sàng, diễn biến viêm và đáp ứng điều trị.
P3: Viêm màng não – Viêm phổi liên quan thở máy – Nấm máu Candida albicans – Hậu phẫu xuất huyết não bán cầu phải (đỉnh – thái dương) – Suy tim – Suy thận – Suy gan cấp/bán cấp. Tình trạng suy đa cơ quan trên nền nhiễm trùng phức tạp, đòi hỏi quá trình điều trị phải được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt là đánh giá sát sao đáp ứng với phác đồ kháng sinh – kháng nấm và kiểm soát cân bằng dịch nhằm hạn chế tiến triển nặng và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
P4: Viêm phổi thở máy do K. aerogenes, E. coli – Xuất huyết tiêu hoá đã ổn định – Nhồi máu não cũ – Gút. Cần theo dõi thêm.
P5: Chấn thương gan độ II – Vết thương thành bụng – Vết thương đầu – Theo dõi ngộ độc thuốc diệt chuột. Hiện tại tình trạng bệnh nhân đã ổn định, cần tiếp tục phối hợp theo dõi và điều trị sát sao.
P7: Chẩn đoán: Ngộ độc Amitriptylin – Xơ gan. Bệnh nhân vẫn còn phát hiện độc chất Amitriptylin trong kết quả xét nghiệm; tình trạng QT còn giãn trên điện tâm đồ. Hiện đã cai máy thở và chuyển sang thở oxy kính. Tiếp tục theo dõi sát diễn biến và duy trì điều trị phù hợp trong thời gian tới.
P8: Viêm kết mạc mắt phải – Van động mạch chủ cơ học – Sửa van ba lá – Vá thông liên thất – Suy tim – Tiền sử viêm phổi P. aeruginosa – Hẹp vừa hệ động mạch vành – Van hai lá cơ học. Kiểm tra và đánh giá lại tình trạng nhiễm trùng hiện tại có xu hướng thuyên giảm hay không, đồng thời theo dõi kết quả cấy vi sinh để xác định tác nhân gây bệnh và định hướng điều trị phù hợp. Song song đó, rà soát đặc điểm ổ giảm tỉ trọng trên chẩn đoán hình ảnh, bao gồm kích thước và diễn biến theo thời gian. Tiếp tục phân tích toàn diện các yếu tố khiến tình trạng người bệnh nặng lên và chưa thể cai máy thở, từ đó xây dựng chiến lược xử trí tối ưu.
P9: Hoại tử phần mềm cổ tay, mu tay phải do rắn hổ mang cắn – Hôn mê sau ngừng tuần hoàn – Viêm phổi. Đề xuất đưa người bệnh vào quy trình đánh giá chuyên sâu theo hướng nghi ngờ lupus, đồng thời phối hợp với Nhóm Dòng máu Việt để hỗ trợ các xét nghiệm và tư vấn liên quan. Cần kiểm tra lại các xét nghiệm kháng thể (KT+) nhằm củng cố chẩn đoán, đồng thời rà soát và định lượng lại tải lượng virus viêm gan B để đánh giá chính xác mức độ hoạt động của bệnh và định hướng điều trị phù hợp.
P10: Chẩn đoán: Sốc nhiễm khuẩn – Viêm phổi – Nhiễm khuẩn tiết niệu – Ngộ độc Rotundin – Co giật – Toan chuyển hoá – Tiêu cơ vân cấp – Suy thận cấp. Kiểm tra và đánh giá người bệnh có biểu hiện của hội chứng muscarin, nicotin hay ảnh hưởng trên hệ thần kinh trung ương hay không, từ đó định hướng xử trí và điều trị phù hợp.
P11: Chẩn đoán: Sốc nhiễm khuẩn (SOFA 8 điểm) – Áp xe mông – ĐTĐ type 2 – Gút.
Cần tiếp tục tìm và phân tích nguyên nhân gây hạ điện giải. Phối hợp xử lý triệt để ổ áp-xe, kiểm soát nguồn nhiễm nhằm hạn chế nguy cơ lan rộng và biến chứng toàn thân.
II. Seminar chuyên môn
Trần Thảo Nguyên trình bày Seminar: “Phối hợp fosfomycin và colistin trong điều trị Nhiễm khuẩn bệnh viện”.
Bài seminar về phối hợp Fosfomycin và Colistin trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện được xây dựng công phu, nội dung logic và cập nhật các bằng chứng gần đây. Phần trình bày đã làm rõ cơ sở dược lý của từng thuốc, cơ chế hiệp đồng khi phối hợp trong xử trí các vi khuẩn Gram âm đa kháng, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng các chủng kháng carbapenem.
Bên cạnh việc phân tích hiệu quả điều trị, báo cáo cũng đề cập đến nguy cơ độc tính trên thận, thần kinh và những lưu ý khi sử dụng trên bệnh nhân hồi sức, suy đa cơ quan. Việc lồng ghép các tình huống lâm sàng thực tế giúp tăng tính ứng dụng, hỗ trợ bác sĩ cân nhắc lựa chọn phác đồ phù hợp, cá thể hóa điều trị và tối ưu hóa hiệu quả trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.
III. Kết luận
Meeting Nội trú Online 24H lần 51 khép lại với trọng tâm rà soát toàn diện các ca bệnh nặng, đặc biệt là những trường hợp suy đa cơ quan, sốc nhiễm khuẩn và ngộ độc phức tạp cần theo dõi sát và điều chỉnh chiến lược điều trị kịp thời.
Dưới sự điều phối của ban chủ trì, buổi họp không chỉ cập nhật diễn tiến lâm sàng mà còn nhấn mạnh tư duy phân tích nguyên nhân gốc: kiểm soát nguồn nhiễm, đánh giá lại đáp ứng kháng sinh – kháng nấm, tối ưu cân bằng dịch – điện giải và xác định các yếu tố cản trở cai máy thở. Các quyết định chuyên môn được thống nhất trên cơ sở dữ liệu cận lâm sàng, vi sinh và hình ảnh học, đảm bảo tính hệ thống và nhất quán trong xử trí.
Tinh thần xuyên suốt của chương trình là chủ động, kỷ luật và phối hợp liên ngành chặt chẽ – nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả hồi sức, kiểm soát nhiễm khuẩn và đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh trong giai đoạn điều trị tích cực.
Vũ Ngọc Phong
